Cuộc đại khủng hoảng và chính sách bảo hộ nhập khẩu: Vai trò của các rào cản thương mại tạm thời

Cuộc đại khủng hoảng giai đoạn 2008 – 2009 ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế toàn cầu so với cuộc đại suy thoái thập niên 30. Tuy nhiên, một điểm khác biệt cơ bản giữa Cuộc đại khủng hoảng và cuộc đại suy thoái là sự suy giảm kinh tế toàn cầu giai đoạn 2008 – 2009 không dẫn tới làn sóng ồ ạt của chủ nghĩa bảo hộ mới. Hiểu được lí do tại sao cuộc khủng hoảng kinh tế 2008 – 2009 không tạo ra một chiều hướng xấu đi của các chính sách “biến hàng xóm thành ăn xin” là yêu cầu cơ bản để có thể hiểu rõ khả năng phục hồi của kinh tế toàn cầu cũng như của hệ thống thương mại đa phương trong thế kỷ 21. Mặc dù không có chủ nghĩa bảo hộ trên diện rộng, nhưng thực tế không ủng hộ quan điểm cho rằng các nước đã không điều chỉnh các chính sách thương mại trong thời kỳ này. Các chính sách như chống bán giá phá, tự vệ và chống trợ cấp – những biện pháp được nhắc đến trong bài viết với tính chất chung là các rào cản thương mại tạm thời (TTBs) – đóng một vai trò quan trọng và thậm chí có thể nói là vai trò then chốt trong cuộc khủng hoảng 2008 – 2009.

Phần Mở đầu giới thiệu nội dung tóm tắt và tiến trình xảy ra các sự kiện trong cuộc đại khủng hoảng, bao gồm: những ảnh hưởng thương mại và các ảnh hưởng kinh tế vĩ mô của nó, sự thiếu chắc chắn của các chính sách thương mại trong giai đoạn 2008-2009, và sự hồi đáp đối với lời kêu gọi giám sát bổ sung chính sách thương mại. Đặc biệt, Phần Mở đầu này nhấn mạnh những nỗ lực kiểm soát thời gian thực tế của Cơ sở dữ liệu chống bán phá giá toàn cầu của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Cơ sở dữ liệu về các rào cản thương mại tạm thời. Những nỗ lực này vừa giải quyết một số mối quan tâm hiện tại về diện không xác định của chủ nghĩa bảo hộ xảy ra trong giai đoạn 2008-2009 vừa bộc lộ sự thiếu hụt trong việc chuẩn bị thông tin mà cuối cùng đã thúc đẩy việc nghiên cứu này.

Tiếp đó, Phần Mở đầu tóm tắt những nghiên cứu gần đây về cách thức mà mười một nền kinh tế là trọng tâm của bài viết này, bao gồm – bốn quốc gia có thu nhập cao và bảy nền kinh tế mới nổi – tăng thêm tới 25% các sản phẩm nhập khẩu là đối tượng của các biện pháp bảo hộ nhập khẩu TTB trong suốt thời kỷ khủng hoảng. Tuy nhiên, có những khác biệt đáng kể liên quan tới kết quả nghiên cứu các quốc gia khác nhau – ví dụ, mức độ các nước đang phát triển sử dụng các TTB cho tới cuối năm 2009 là 39% các sản phẩm nhập khẩu cao hơn mức này của năm 2007, trong khi đó, mức độ tăng thêm này tại các nền kinh tế có thu nhập cao – những nước có ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái chỉ dừng lại ở mức 4%. Cuối cùng, Phần Mở đầu tóm tắt cách thức mà các tác già áp dụng một phương pháp luận mới, cũng như các số liệu chi tiết ở cấp độ sản phẩm về TTBs, sự luận chuyển thương mại và các chính sách thương mại khác nhằm giải thích rõ hơn những sự thay đổi trong kỷ nguyên khủng hoảng trong bối cảnh lịch sử.

Tin Liên Quan